Kinh Bát Đại Nhân Giác - giảng giải

ĐĐ. Thích Trúc Thái Minh

MỤC LỤC

Điều Giác Ngộ Thứ Nhất Điều Giác Ngộ Thứ Năm
Điều Giác Ngộ Thứ Hai Điều Giác Ngộ Thứ Sáu
Điều Giác Ngộ Thứ Ba Điều Giác Ngộ Thứ Bảy
Điều Giác Ngộ Thứ Tư Điều Giác Ngộ Thứ Tám


Điều Giác Ngộ Thứ Nhất

KINH BÁT ĐẠI NHÂN GIÁC

(Phẩm thứ nhất)

LỜI GIỚI THIỆU

      Kinh bát đại nhân giác chúng ta học tìm hiểu là bản dịch của ngài An Thế Cao dịch từ tiếng Phạn ra tiếng Hán. Cuốn kinh này còn có tên khác là kinh tám điều.

     Ngài An Thế Cao là một tu sĩ xuất thân từ nước Ba Tư ngày nay là Iran, ngài là vương tử con vua, sau khi vua cha mệnh chung thì ngài quy y phật, ngài tu hành rất tinh tấn và xuất sắc, tinh thông cả ba tạng Kinh, luật, luận. Sau khi ngài xuất gia, đến năm 148 sau công nguyên, vào thời Đông Hán thời vua Hoàn Đế ngài đi đến Lạc Dương là Trung Quốc ngày nay để dịch kinh điển. Trong cuộc đời của ngài đã dịch được rất nhiều bộ kinh mà trong đó có bộ kinh Bát Đại Nhân Giác, ngoài ra có nhiều bộ kinh khác như An Ban Thủ Ý dành để tu thiền quán ( quán hơi thở), kinh Thập Nhị Nhân Duyên, kinh Bát Chánh Đạo vv…

Về phần ngôn ngữ ngài dùng thì rất hay không bóng bẩy và rất chính xác.

    

    Kinh nghĩa là gì?

Là sợi chỉ xuyên suốt xâu lại gọi là kinh, là lời dạy của Phật mà được kết tập lại chúng ta gọi đó là kinh.

    Bát Đại Nhân Giác nghĩa là gì?

Bát nghĩa là tám, Đại Nhân tức là người lớn, Giác tức là giác ngộ, cho nên kinh Bát Đại Nhân Giác dịch trọn vẹn là tám điều bậc đại nhân giác ngộ.

    Vậy bậc đại nhân ở đây là ai? Mỗi người chúng ta nặng 70-80kg mà vẫn không phải bậc đại nhân. Ở đây Phật dạy như thế này mới là bậc đại nhân đó là người tu tập Phật Đạo mà đã vào hàng sơ Bồ Tát trở lên từ Thập Tín, Thập Hạnh Thập Trụ, Thập Vị, Thập Hồi Hướng cho đến Đẳng Giác và Diệu Giác. Đại Nhân ở đây không phải to béo mà là người này có Tâm, Trí lượng rộng lớn cho nên gọi là Đại Nhân. Vậy cuốn kinh này nói về tám điều mà một bậc Bồ Tát giác ngộ.

   Còn Giác nghĩa là gì? Giác là tỏ rõ, hay giác ngộ cũng là tỏ rõ, là thấu suốt là hiểu biết thấu suốt gọi là giác ngộ. Như ngày xưa người dân Việt Nam giác ngộ lí tưởng cách mạng hay thấu suốt con đường cách mạng thì gọi là giác ngộ.

Tám điều mà một bậc Đại Nhân giác ngộ hay ai giác ngộ được tám điều này thì cũng gọi là bậc Đại Nhân và ai giác ngộ được tám điều này thì cũng là Bồ Tát .

     Chúng ta tìm hiểu cuốn kinh này bằng tiếng Việt qua bản dịch của Hòa thượng thượng Thanh hạ Từ.

 

      Thường thì chúng ta bắt gặp ở tất cả kinh Phật thuyết đều bắt đầu với câu “ Như thị ngã văn…” thì trong bài kinh Bát Đại Nhân Giác này không có câu đó vì vậy nhiều người thắc mắc liệu đây có phải kinh Phật thuyết không. Thường bất kì bài kinh nào cũng có sáu điều để chứng nhận đó là kinh Phật thuyết gọi là lục chủng chính tín gồm; văn thành tựu, tín thành tựu, chủ thành tựu, xứ thành tựu, thời thành tựu và chúng thành tựu.

     Như ngài Anan hay nói là “như thị ngã văn nhất thời Phật tại…”

Như thị là tín thành tựu, ngã văn là văn thành tựu, nhất thời là thời thành tựu, Phật là chủ thành tựu, tại ví dụ tại Xá Vệ Quốc thì đó là xứ thành tựu và cái thứ sáu là chúng thành tựu là nhưng người có mặt tại thời điểm Phật thuyết kinh thì đây là sáu điều mà hầu hết trong kinh nào Phật thuyết cũng có và đây cũng là sáu điều để xác nhận kinh đó là kinh Phật thuyết, nhưng ở đây thì không có vậy thì như thế nào? Quả thật ở đây không phải là một bài kinh nguyên của Phật nói mà do ngài An Thế Cao trích rút từ hệ thống kinh điển của phật nói đúc kết thành tám điều này để chúng ta tu học cho nên ở đây không có câu “ Như thị ngã văn…” bài kinh này Phật nói nhiều nơi nhiều lúc, cho nhiều đại chúng khác nhau.

Mở đầu bài kinh này là lời của ngài An Thế Cao ngài nói “Vi Phật đệ tử thường ư trú dạ chí tâm tụng niệm Bát Đại Nhân Giác…”

Thì ở đây vi Phật đệ tử nghĩa là tất cả đệ tử Phật cả chúng xuất gia lẫn chúng tại gia, xuất gia thì có tăng ni, tại gia thì có cư sĩ nam cư sĩ nữ.

Thường ư trú giải nghĩa là phải chăm chỉ, trú là đêm, dạ là ngày, thường cả ngày lẫn đêm. Chí tâm tụng niệm Bát Đại Nhân Giác. Có nghĩa là phàm là đệ tử Phật thì ngày đêm phải chuyên chú tụng niệm kinh Bát Đại Nhân Giác. Vậy Phật tử chúng ta đã tụng kinh này chưa? Thưa quý phật tử Bát Đại Nhân Giác là bộ kinh rất là hay, khi thầy chưa xuất gia thầy bắt gặp bộ kinh này và thầy đọc ngấu nghiến đúng là giác ngộ thật sự thấm thía vô cùng và đúng là rất là hay. Ở đây hòa thượng Thanh Từ dịch là chúng ta đã là hàng phật tử phải hằng giữ thọ trì nhớ ghi tám điều giác ngộ của một bậc Đại Nhân. Tới đây thì phật tử chúng ta nên tụng thêm kinh này trong thời khóa của mình và chịu khó quán chiếu thì chúng ta tiêu được rất nhiều phiền não.

   

                                 PHẦN CHÍNH KINH

 

ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ NHẤT;

ĐIỀU MỘT; (Đệ nhất giác ngộ)

Phần âm;

                         “Thế gian vô thường

                           quốc độ nguy thúy

Tứ đại khổ không

ngủ ấm vô ngã

Sinh diệt biến dị

hư ngụy vô chủ

Tâm thị ác nguyên

hình vi tội tẩu

Như thị quán sát

tiệm ly sinh tử

Đệ nhất giác ngộ là điều giác ngộ thứ nhất, đã là đệ tử phật thì phải giác ngộ điều thứ nhất này “thế gian vô thường quốc độ nguy thúy…”  vô thường nghĩa là không thường còn thường xuyên biến đổi từng giờ từng phút, từng giây, từng sát na, chúng ta học phật thì quá quen với từ vô thường có khi quen quá thành nhàm không thấu. Thái Tử Tất Đạt Đa chỉ một phen ra cổng thành nhìn thấy người chết ngài liền giác tỉnh, còn chúng ta không biết đưa bao nhiêu đám ma đám tang, bao nhiêu người bạn người thân ra nghĩa địa mà không tỉnh, có nghĩa là chúng ta rất là mê, nói thế gian vô thường nhưng nói thế thôi mà chẳng hề thấm thía, quả đúng là thế gian vô thường đúng không quý phật tử? vì lớn như trái đất này ai cũng nghỉ trái đất này chắc lắm chứ nó vững bền nhưng đâu ngờ quốc độ nguy thúy, nguy thúy có nghĩa là giòn bở.

                   Có đúng lời Phật dạy không quý phật tử?

                    Trái đất này giòn lắm

    Người ta nói trái đất mình như quả trứng, rất mỏng manh và toàn thể nhân loại chúng ta đang bám trên quả trứng này, bên trong là núi lửa đang ngày đêm sôi sung sục, không biết là vỡ ra chỗ nào. Chúng ta đang khoan thăm dò rất nhiều nơi và trái đất thì đang sụp lún như quả bóng bị đâm thủng hơi, chúng ta khai thác khoáng sản làm rỗng lòng đất ra nữa. Cho nên kinh Phật nói; Quốc độ này nguy thúy tức là rất giòn bở.

Chúng ta chứng kiến trận động đất ở Nhật Bản năm vừa rồi chết bao nhiêu con người, trước đó những nạn nhân trên đất Nhật chắc họ vẫn nghĩ rằng mình còn sống lâu lắm vì trái đất này còn vững bền, họ đâu có nghĩ rằng trong một giây lát tất cả đều sụp đổ, chúng ta học vô thường mà không thấm hết, không quán chiếu kĩ càng cho nên không thấy lo. Nếu một người thấu lí vô thường thì sẽ rất đặt nặng việc tu hành, không hề xem nhẹ việc tu hành. Ở thế gian này cái gì cũng có thể gác lại để lo cho việc tu hành, chúng ta phải thấy vô thường đến có hẹn đâu, sẵn sàng có thể ngày mai ngày kia chúng ta ra nghĩa trang rồi, biết bao nhiêu người vẫn còn tính chuyện năm nọ năm tới, nhưng mới tính xong thì đã tò tít te rồi thế thì chúng ta thấy đúng là vô thường không, nhưng mà không ai nghĩ đến chỗ đó, cái mạng sống của chúng ta mong manh vô cùng, phụ thuộc vào từng giây thần kinh từng mạch máu, cho nên nó rất mong manh, thật sự là mong manh, cho nên chỉ cần quán vô thường quán kĩ vô thường chúng ta thấy lạnh tóc gáy, mình như thế này thôi chứ đi trượt chân ngã đập đầu xuống đất là chết rồi, một cơn gió cũng có thể làm chung ta mất mạng. nghĩa là mạng sống của chúng ta rất mong manh, thấu được cái mong manh này thì phải lo tu chứ, nếu tâm mình vẫn còn ham hố trần gian nhiều thì chưa thật giác ngộ đâu, ở đây thầy không bắt quý phật tử bỏ làm bỏ ăn nhưng mà phải trọng tâm vào việc chính lo việc vô thường này, những việc khác xếp nhẹ hơn, thứ tự ưu tiên là nó phải xuống, cái chuyện lo những cái này cái kia thì để xuống dưới, lo cho vô thường tức là lo tu hành, lo vấn đề đạo đức tâm linh thì đấy là người giác ngộ, còn nếu với việc tu vẫn còn xem nhẹ phải thúc dục việc tu hành thì người này vẫn còn mê lầm. Cho nên ngay từ đầu Đức Phật dạy; thế gian này vô thường mong manh quốc độ này nguy thúy trái đất này rất giòn bở, không chắc chút nào, mấy năm gần đây đã minh chứng điều Phật nói rất rõ.

Tứ đại khổ không ngủ ấm vô ngã…” tứ đại là bốn đại lớn là đất, nước, gió, lửa đại. Tứ đại ở đây muốn nói thân xác chúng ta đây, cái thân này Phật nói là được cấu kết từ tứ đại, chất đất đó là ăn cơm, ăn rau, ăn thịt, ăn cá đấy là đang cho đất vào người. Nước, chúng ta uống nước, các loại nước. Gió, chúng ta hít thở không khí vào ra. Lửa là nhiệt lượng của cơ thể mình, nhiệt từ ánh nắng mặt trời, từ thức ăn trong đó có chất lửa chất nóng chất nhiệt đấy là lửa. Bốn chất này cấu kết nên thân chúng ta, ở đây Phật dạy; tứ đại này là khổ, điều này chúng ta thấy chúng ta có cái thân này là khổ, vì thân mà khổ, hữu thân thọ thị khổ. Có thân này ra bắt đầu phải lo cho nó đủ thứ nào là lo ăn, lo tắm rửa, lo mặc, lo khi nó bệnh tật, lo khi nó đói khát vv… đủ thứ chuyện để lo, cho nên tứ đại này quả thật là khổ, tất cả đều vì cái thân này mà khổ. Nhưng ở đây lại nói là khổ không cơ tức là nó khổ nhưng bản chất nó rổng không vì do bốn đại hợp lại, nó không thật có nó là nhân duyên hoà hợp cho nên nó không thật rồi nó lại làm cho mình khổ cho nên gọi là tứ đại khổ không, chứ nếu nó khổ nhưng mà nó có thật để cho mình vất vả vì nó thì cũng được, nhưng vất vả vì nó mà nó lại không, mai mốt mà chết nó về không thì chúng ta vẫn phải đợi, nhưng ngay khi đang sống mà nó về không, bản chất rỗng không. Thầy lấy ví dụ như cái nắm tay, khi thầy co lại thì có nắm tay giống như thân mình cũng thế khi tứ chi chưa hợp lại thì chưa có thân, cho nên cái thân này là duyên hợp mà duyên hợp thì bản chất của nó là rỗng không, nó rỗng không mình khổ sở vì nó mà nó lại trống rỗng, ví dụ nó có thì mình còn đỡ, tôi vất vả để tôi có được cái gì đó, vất vả chịu khó làm chịu khó ăn bồi bổ để mai mốt cái thân này biến thành vàng hay kim cương thì còn được, nhưng mình vất vả mai mốt biến thành đống đất, biến mất hết, chẳng thành cái gì cả. cho nên chúng ta thấy đúng là khổ khổ, cho nên chúng ta mà còn mê thì rất uổng vô cùng, khi giác ngộ mới thấy rõ điều đó, nếu không tu tập thì uổng công vì cái thân này. Tứ đại khổ không, cái khổ trên đời này thì nhiều lắm có tới tám vạn bốn ngàn cái phiền não đau khổ, nhưng nói chung có bốn cái khổ lớn; thứ nhất là sinh ra khổ cái bào thai trong bụng mẹ chúng ta biết khổ rồi, tối tăm chật hẹp bị chèn bị ép trong cái chỗ nhơ nhớp rồi đến lúc sinh ra cũng khổ, cho nên người ta nói khi sinh ra thì khóc có ai sinh ra mà cười đâu, cho gọi là chào đời bằng tiếng khóc ban đầu, cho nên biết đời này là khổ không sung sướng gì, điềm đấy là điềm báo khổ cả cuộc đời. Thứ hai là già khổ. Thứ ba là bệnh khổ, chẳng ai nói tôi bệnh mà tôi sung sướng cả. thứ tư là yêu nhau mà không được gần gũi mà phải xa lìa là khổ. Thứ năm là ghét nhau mà cứ phải gặp mặt là khổ. Thứ sáu là cầu mong không được toại nguyện là khổ. Thứ bảy là thân thể bị ham muốn dục vọng thiêu đốt đây là cái khổ của ngủ ấm. Thứ tám là cái khổ của cái chết, tử biệt ly đau khổ. Tám khổ lớn này từ tứ đại này mà ra, không có tứ đại này thì không có tám cái khổ lớn này, cho nên tứ đại này quả thật là khổ, là gốc chứa đau khổ, chỉ có không thân là nhẹ nhàng, có thân là khổ. Ví dụ bây giờ leo núi Yên Tử ai mà 80kg trở lên leo có khổ không? Vác thân này đi rất mệt cho nên nói thân này là khổ.

Tứ đại khổ không ngũ ấm vô ngã…” cho nên Đức Phật nói cái thân này là tứ đại, tứ đại thuộc về sắc ấm, cái thân chúng ta con người chúng ta Đức Phật gọi là ngũ ấm, ấm tức là ngăn che, che đậy, bịt bùng. Ngũ ấm tức là năm chỗ bịt bùng mình, che mờ mình. Trong năm ấm có sắc ấm thì sắc ấm chính là sắc thân này, tại sao sắc thân này gị là sắc ấm? Vì nó ngăn che tính giác của chúng ta, tính giác của chúng ta rất sáng suốt, tinh thông nhưng khi nó nhập vào thân xác này thì bị thân này che làm mờ đi, ví dụ cái mắt của mình đầy rỉ đầy nghèn thì không thấy được, cái tai cũng thế đáng lẽ cái giác linh của mình rất sáng suốt nhưng khi nó vào sắc thân này nó bị mờ đi nó không linh thông được nữa, cho nên gọi là ngăn che nếu chúng ta không vướng cái mắt thịt này thì chúng ta thấu suốt luôn, cho nên các bậc thánh khi tu đắc quả rồi họ nhìn thấu suốt họ vượt qua sắc ấm này, chứ còn mắt thịt của chúng ta đâu có nhìn được xa, không nhìn xuyên suốt được, rõ ràng cái cục thịt này che cái thấy của mình rồi. Đáng lẽ cái thấy của mình là cái thấy sâu thấy xa thấy xuyên suốt nhưng khi vào thân xác này thì hay cái cục thịt này tuy thế mà nó làm mờ cái thấy của mình rồi, ai mà bị đục thủy tinh thể thì còn bị mờ hơn nữa lại phai đi thay thủy tinh thể khác. Nhưng dù có thủy tinh thể gì thì cũng không bằng thể tánh của mình được. Thứ hai là thọ ấm tức là cảm thọ, cảm thọ cũng làm chúng ta mờ đi cái trí giác, khổ quá cũng lầm mà sướng quá cũng lầm, đau quá cũng làm mình mê man không thấy được đúng sự thật. Cho nên cảm thọ của chúng ta làm mình mất trí đi không sang suốt, cho nên chúng ta thường nói lúc đó tôi buồn quá cho nên tôi không tỉnh táo, lúc đó tôi đau quá tôi không tỉnh ra được, có phải không? Vì cảm thọ nó che mờ đi tri giác của mình, chúng ta bị cái thọ này che mờ nhiều lắm. Chúng ta có mấy loại cảm thọ; khổ thọ, lạc thọ, trung tính hay gọi là xã thọ thì ba cái này nó đều che mình hết, mà đặc biệt nhất là sướng và khổ hai cái này làm chúng ta mê man rất nhiều. ví dụ mấy anh nghiện anh mà hít một hơi là anh đê mê luôn lúc đấy công an có còng tay cũng không biết gì nữa, nó có tỉnh đâu, cái cảm thọ đã che mờ cái tri giác, cho nên gọi là thọ ấm che mờ. Cái thứ ba là tưởng ấm, tưởng tức là tưởng tượng là tư tưởng của chúng ta, có câu chuyện kể về chú thị giả hầu thầy có người cúng cho chú xấp vải, chú tay vừa quạt cho thầy đầu chú tưởng tượng, bây giờ mình không tu nữa mang xấp vải này bán lấy tiền để mua bò cái, bò cái đẻ ra con, thành bầy đàn rồi bán được nhiều tiền mình mua thêm dê,thêm cừu mình sẽ có cả một trang trại, lúc đó mình sẽ làm chủ trang trại, rồi mình có tiền mình sẽ cưới một cô vợ xinh đẹp rồi cất một ngôi nhà đẹp. rồi vợ mình sẽ sinh cho mình một đứa con trai kháu khỉnh, sau khi đẻ xong thì vợ chồng mình bế cháu về thăm ông bà, trên đường đi thì hoa nở chim hót véo von. Vợ mình thì tay bế con còn mình đi trước dẫn đường, đang trong dòng tưởng tượng thì lại thấy cô vợ đánh rơi đứa con thế là tức quá cầm gập đập cho vợ một cái không ngờ là đập “bốp” vào đầu thầy, tức là dòng tư tưởng làm cho mình mờ đi thực tại. Ông thầy đã chứng quả A la Hán nên ông biết ông bảo là đừng đánh vợ nữa mà đánh thầy đây được rồi, đúng là tưởng che mờ tri giác vì nếu tỉnh thì mình đâu làm chuyện đấy, nhưng tưởng dẫn đi. Tiếp theo là hành ấm, hành tức là những niệm niệm sinh diệt trong tâm chúng ta, suy tư của chúng ta, là hành vi của chúng ta nó cũng che mờ tri giác. Rồi thức tức là cái phân biệt của chúng ta, chấp trước phân biệt của chúng ta, như yêu người này ghét người kia, cái thức này làm chúng ta mê lầm nhiều lắm, ghét ai thì nhìn người ấy toàn xấu ưa ai thì nhìn người ấy toàn đẹp, như vậy có đúng là thức này che mờ không? Đã có phân biệt là bị che mờ cho nên các cụ mình ngày xưa nói rất đúng “yêu nhau thì trái ấu cũng tròn, ghét nhau thì quả bò hòn cũng méo” hay câu “yêu nhau thì yêu cả đường đi mà ghét nhau thì ghét cả tong ti họ hàng” có mê lầm không? Khi đã yêu thì như thế, còn ghét thì như thế, cũng con người ấy ngày xưa yêu thì thấy cái gì cũng yêu cái gì cũng đẹp vậy mà khi ghét thì không thể chịu được muốn đào đất đổ đi, đến dáng đi của người ấy cũng ghét luôn không thể nào mê được. Cho nên khi chúng ta đã bị cái thức che mờ rồi thì không thể đánh giá chính xác được. vậy các phật tử đã hiểu ngủ ấm chưa? ấm tức là che ngăn, chúng ta bị năm cái màng này ngăn đó là sắc thân, cảm thọ, vọng tưởng, suy nghĩ và phân biệt năm cái này che bịt mình cho nên mình đặc sệt phàm phu ở chỗ đó, trí tuệ không thấu được cái gì, nhận thức sai lệch rất nhiều. Cho nên Phật dạy là ngủ ấm ngăn che, nhưng Phật lại dạy năm ấm này tạo nên con người, tứ đại thì tạo nên sắc thân thêm bốn ấm nữa gồm cảm thọ, tư tưởng suy nghĩ, phân biệt thì tạo thành một con người hoàn chỉnh hay nói năm ấm tức là nói một con người, một chúng sinh hoàn chỉnh, còn nói sắc ấm hay nói tứ đại thì chỉ nói cái thân này thôi, chúng ta đang cười đang buồn đang vui là thuộc về cảm thọ, tính toán thuộc về hành ấm, tưởng tượng mộng mơ thuộc về tưởng ấm, phân biệt yêu ghét thuộc về thức ấm. Năm ấm này như năm ngón tay khi co lại thì thành nắm tay thì cái thân chúng ta cũng vậy do năm ấm này tạo nên, nhưng năm ấm này làm mờ đi làm cho mình thấy không đúng sự thật, cho nên gọi là ngủ ấm ngăn che, mà ngủ ấm thì vô ngã, tứ đại thì rỗng không. Ngã tức là cái tôi, nói đến ấm thì mới nói đến ngã còn tứ đại thì rỗng không, thân này rỗng không. Nhưng ấm thì nói đến cả về mặt tinh thần, thì chúng ta ai cũng nghĩ rằng có một cái hồn ở trong này, có cái tôi trong thân này, ở đây thầy gọi là cái tôi còn thường quý phật tử gọi là cái linh hồn. Nhưng mà xét cho đúng thì linh hồn không thật có cho nên ở đây nói là ngủ ấm vô ngã. Nếu năm ấm này mà có ngã thì cái ngã này nằm chỗ nào? Sắc thân này là tôi hay cái gì là tôi? Hay cảm thọ là tôi ư? Cảm thọ thì lúc buồn lúc vui, lúc buồn là tôi thì lúc vui là ai, có phải không quý phật tử? nếu tôi thì phải là một cái gì đó nhất quán từ đầu đến cuối chứ, còn như bây giờ buổi sáng buồn đấy là tôi thì chiều vui là ai đây? Chiều là người khác rồi. Thế còn cái tưởng thì có phải ngã không? Lúc tôi tưởng cái này lúc tôi tưởng cái kia, lúc tôi tưởng con bướm thì tôi là con bướm lúc tôi tưởng con voi thì tôi là con voi à? Thế thì không phải, cho nên không phải có tôi, thức phân biệt cũng không phải tôi. Trong năm ấm này tìm không ra cái tôi gọi là ngủ ấm vô ngã vậy mà chúng ta đều lầm cho rằng trong thân này có cái tôi hay có cái linh hồn, còn nếu chúng ta giác ngộ thân này không có cái tôi thì lúc ấy đắc Đạo, không phải chuyện nhỏ lúc đấy chúng ta đã đặt được vô ngã rồi. Học như vậy nhưng không dễ bào được cái tôi này đâu, chúng ta còn chấp ngã, cái ngã chấp này là cái khủng khiếp nhất và quá trình tu hành của chúng ta là quá trình bào mòn cái chấp ngã này, đến bao giờ không còn chấp ngã nữa, không thấy có ngã nữa thì đấy là thành tựu. cho nên gọi là vô ngã là đạt Đạo, vô ngã là Niết Bàn, cái tôi này nó sai sử chúng ta muôn kiếp rồi và chúng ta làm bất kì cái gì cũng đều do cái tôi này sai sử hết, cho nên thưa các quý phật tử đặt quả vị Thánh không phải dễ, nếu người thật sự thấu được vô ngã thì mắng cũng thế mà chửi cũng thế không hề buồn nhục mạ cũng không hề buồn, không có ngã thì làm sao có buồn, không có tôi thì ai buồn. Thế nên còn buồn, còn phiền não, còn tự ái là còn có tôi rồi, chưa hết tôi mà nếu tôi càng lớn thì buồn phiền càng nhiều, tôi mỏng đi thi buồn ít, cái tôi này tỉ lệ nghịch với cái hạnh phúc của chúng ta, tôi mà lớn thì hạnh phúc nhỏ và ngược lại. Ngài Di Lặc Bồ Tát của chúng ta khi ngài thị hiện là một vị Hòa Thượng gọi là Bố Đại Hòa Thượng ngài đi đâu cái bụng ngài cũng phè ra như thế rất vui, trẻ con đến trêu chọc ngài thoải mái, có người còn lấy bô phân đổ lên đầu ngài ngài cũng vui vẽ, không phiền không giận gì cả, vì ngài đã vô ngã rồi không còn chấp ngã nữa. có vị đi tìm Bồ Tát Di Lặc đến lúc đi về dọc đường thì mới thấy một con chó nó bị thương lở loét hết đang nằm ở vệ đường nó rên đau đớn, vị tu sĩ này rất cảm động thương và nghĩ nếu bây giờ mình mà đụng tay vào vết thương của con chó này thì nó đau lắm nên ngài dùng lưỡi ngài nếm mủ cho nó. Khi ngài vừa cúi xuống định nếm thì thấy Bồ Tát Di Lặc hiện ra chính là con chó đấy, do ngài diệt được cái ngã mới thấy được Bồ Tát, cho nên còn cái tôi cái ngã thì còn chướng ngại đường Đạo, chúng ta muốn thấy Phật thật thì cái tôi phải tiêu sạch, quá trình tu phật chính là quá trình bào mòn cái tôi này. Càng tu càng thấy cái tôi nhỏ dần, càng tu tính nết càng dễ chịu, dần dần mắng cũng được nói xấu cũng được, xĩ nhục mình cũng cười được có khi còn cảm ơn vì nhờ như thế mà mình được tiêu nghiệp nhanh, ngươi ta càng xĩ nhục mình thì mình càng cảm ơn thế mới là người biết tu, không có gì phiền, sợ là mình không tốt thôi còn thật là mình không có lỗi thì người ta xĩ nhục mình cũng không vấn đề gì, càng được tiêu nghiệp thế mới là người biết tu. Thế nên càng ngày chúng ta tu trì mới có nhiều niềm vui, còn nếu càng tu càng thấy buồn phiền thì mình tu dở rồi, đấy là tu sai đấy, như vậy càng tu cái ngã càng to. Tu ban đầu là hội viên sau là trưởng đạo tràng, phó đạo tràng ngưng mà không khéo cái ngã lại to lên là chết, khi đó lại nói là “tôi bảo mà ai không nghe là chết với tôi” thế là hỏng rồi. Phải càng tu thì dần dần thấy cái ngã của mình càng bé và mình càng khiêm hạ xuống thì đấy là tu đúng và phiền não sẽ ít dần, cái ngã tỉ lệ nghịch với niềm vui của chúng ta, cái người mà cái ngã nhỏ thì rất dễ không phiền não nhiều, không giận ai lâu biết là cái thân này nó là rỗng không có gì đâu, nó chỉ là đống đất thôi không có gì cả nên xem nhẹ nó, thì có niềm vui. Cho nên ở đây phật dạy “tứ đại khổ không ngủ ấm thì vô ngã…” năm ấm này hợp lại với nhau thì có thân người nhưng bản chất nó vô ngã, nó không có tôi, chúng ta vẫn thường dùng cái tôi để phân biệt làm việc nhưng quán cho kĩ thì không có tôi, trước đây thầy đã thực tập cái quán không có tôi này, nhưng trong tâm thì bảo là có tôi mà không có tôi thì thế là thế nào. Bây giờ phải đi tìm xem tôi là cái gì? Tôi là cái mắt cũng không phải vì mắt này có thể móc đi cũng được, tôi là cái hàm răng cũng không phải vì hàm răng cũng có thể thay hết, tôi là thịt là da cũng không phải, tôi là quả tim này cũng không phải, tôi là cái dạ dày cái lòng cái dạ này cũng không phải, chân tay thì càng không phải là tôi, vậy bây giờ một người mà thay gần hết nào là mắt giả, răng giả, tóc giả, tim giả vv… vậy lúc đấy cái tôi của mình là cái gì, thế mới thấy rõ là không có cái tôi toàn là đồ giả hết. Cho nên quán kĩ lời phật dạy thì con người chúng ta thật chẳng có cái gì là ta cả, cho nên gọi là ngủ ấm vô ngã. Vào Đạo chúng ta phải thấu được kĩ cái này, phải thường nhớ cái này, còn khi quên cái này là phiền não theo ngay, là chấp nhau từng tí một, quý phật tử hãy quán thử rồi xin mọi người cứ mắng tôi, cứ rủa tôi để xem tôi xem sao, xem mình còn tư tưởng về cái tôi nhiều không, đấy là cái để chúng ta thực tập phá ngã.

                                   Ngủ ấm này vô ngã

                                   Sinh diệt biến dị

                                   Hư ngụy vô trụ

Ở đây Phật dạy cái ngủ ấm này hư ngụy, hư là không thật, ngụy tức là giả, mà lại vô trụ tức là không có ngã. Cái ngủ ấm này không thật mà tâm là ác nguyên, ác nguyên là nguồn tội, tâm chúng ta là nguồn tội ác. Ở nơi ngủ ấm này mà cái tâm làm chủ nó là gốc của các lổi lầm tội ác. Hình vi tội tậu hình tức là cái thân hình này, con người chúng ta có hai phần thân hình và tâm linh, thế thì tâm linh của chúng ta là gốc của tội lỗi, gọi là tâm thị ác nguyên tâm là nguồn của tội, tội tẩu là chỗ chứa các tội lỗi, tẩu là cái ao hay cái đầm là chỗ chứa, cái tẩu hút thuốc lá cũng gọi là cái tẩu là cái chỗ người ta nhồi nhét, cái thân chúng ta là cái nhóm chứa tội lỗi, tâm luông nghĩ lung tung bậy bạ, nó khiến thân này tạo tác, thân này tạo tác liền thành tội. ví dụ chuyện đi ăn trộm cũng do tâm, nguyên thân này thì không thể đi ăn trộm nhưng tâm khởi chuyện đi ăn trộm, rồi khiến tay mình móc túi vậy là đã thành nghiệp trộm. tâm là nguồn mà thân là hậu quả chứa chấp tội lỗi, nếu người ta bắt được ăn trộm thì người ta đánh thân chứ có đánh tâm đâu, tâm làm mà thân chịu. Cho nên tâm là cội nguồn tội lỗi thân là nguồn chứa, giống như nước chảy từ nguồn xuống hồ, thân chúng ta là chỗ chứa nhóm các tội lỗi, cho nên cái thân người của chúng ta là cái thân tổng báo, nó tổng báo kết quả của vô số kiếp cho đến ngày hôm nay, thân của chúng ta như thế nào là kết quả của tổng báo từ vô số kiếp cho đến ngày nay. Thân Đức Phật 32 tướng tốt 80 vẽ đẹp đó là kết quả của vô số kiếp ngài tu hành, tích lũy tổng lại thân tướng của Phật. Còn thân chúng ta cũng thế cũng tích lũy từ vô số kiếp đến hôm nay nên cái thân người chúng ta hôm nay, người thì lùn người thì cao người trắng người đen người gầy người béo người xấu người đẹp mỗi mỗi một cái đều là kết quả lúc trước mình gây ra, cho nên thân này là chỗ dồn chứa tất cả tội lỗi từ vô thủy kiếp, nó dồn chứa trong thân này. Thầy vẫn thường ví cái thân này như cái ắc quy được xạc đầy điện đến lúc nó xì ra lúc nào không biết, có những vị bây giờ đùng cái phát bệnh thì cái mần bênh này ủ từ trong thân này từ trước rồi, nó đợi đủ duyên nó phát ra, cái nghiệp của mình trú trong thân này đến đủ nhân duyên nó phát ra thành bệnh cho nên đang khỏe mạnh đùng ra phát bệnh, đấy đều là cái thân này hết chứa ở sâu bên trong cho nên thân này là chỗ chứa nhóm hậu quả các tội lỗi gọi là “Hình vi tội tậu” tâm thị ác nguyên có nghĩa là tâm là chỗ khởi nguồn của tội lổi nhưng mà chất chứa lại cái kết quả lại là thân này. Cho nên mai mốt chúng ta chết bỏ cái thân này còn dư bao nhiêu nghiệp báo thì theo cái thần thức theo sang kiếp sau, cái túi thần thức khênh theo nghiệp sang kiếp sau mang đi nguyên vẹn chuyển sang kiếp sau tạo ra thân mới, nơi cái thân này chúng ta bòn mót được nhiều phước lành công đức thì chuyển sang kiếp sau được một thân mới tốt đẹp, nơi thân này chúng ta tạo tác nhiều tội lỗi nhiều điều xấu xa thì bỏ thân này sang kiếp sau sẽ tạo ra một thân mới xấu xa, mà trong kinh thập thiện Phật bảo đó là thân của ba đường ác thân địa ngục, thân ngạ quỷ, thân súc sinh đấy là thân ác. Chúng ta phải sống thế nào để chết rồi ít nhất được làm người hay trời thì đó là hành thiện, cho nên thân Người, thân Trời, thân Phật, thân Bồ Tát là những thân thiện còn thân súc sinh, thân ngạ quỷ, thân địa ngục là thân của ba đường ác mà do tâm chúng ta làm ác tạo ra.

               “Hình vi tội tẩu

                 Như thị quán sát

               Tiệm ly sinh tử”

Nếu một người đệ tử Phật mà đúng như thế mà suy ngẫm mà quán sát thị tiệm ly sinh tử, tiệm ly tức là dần dần tách rời sinh tử. Nếu chúng ta quan sát kĩ và nhớ mấy điều trên (thế gian này vô thường quốc đọ này giòn bở, cái thân tứ đại này là khổ là rỗng không, cái ngủ ấm này là vô ngã hư ngụy không có chủ thể, tội lỗi từ tâm sinh mà kết quả cái thân này chịu) thì dần dần mình ra khỏi sinh tử, giải thoát sinh tử luân hồi, không ở đâu xa ngay trong một bài này thôi chúng ta có thể tu tập được rồi, vấn đề là chúng ta phải học và hiểu lời Phật dạy, có ứng dụng hay không thôi, còn chúng ta thì không ứng dụng, học ở đây hiểu thế nhưng ra ngoài quên mất, lại tranh nhau dành dật nhau đấy là không hiểu vô thường rồi, nếu biết vô thường thì thôi. Tham đắm say mê nhiều thứ chứng tỏ mình chưa thấu vô thường. Thầy nói về cô Phật tử Hà Nội gia đình khá giả chồng làm tổng giám đốc, cô ấy tên cô Ngân cô ấy rất hiểu đạo, vừa xây xong nhà mới các vật dụng rất cao sang thế mà cô nhìn cô bảo “cái này cũng vô thường thôi mà Thầy”  gán cho chữ vô thường để không mê, lở nó hỏng hay mất cũng không tiếc. Cho nên Phật dạy ai quán kĩ vô thường thì sẽ bớt khổ đau. Còn chúng ta thì chưa quán kĩ vô thường đâu, chúng ta vẫn nghĩ chồng mình còn sống ở bên cạnh mình mấy chục năm nữa, con mình phải sống bên mình tới khi mình chết thì thôi, cái nhà này ở với mình mãi, luôn có tư tưởng là mọi thứ thường còn, thì đấy là chưa thấu lẽ vô thường. Vì có tư tưởng như thế cho nên khi vô thường đến chúng ta cuống quýt, hoảng hốt, khổ đau than vãn đấm ngực. khi đi đám ma nhà người thì khuyên người la “em ơi vô thường ấy mà” nhưng khi đến phiên nhà mình thì lăn lên lộn xuống, đấy là vô thường ngoài miệng thôi chứ có thấu đâu. Còn nếu thật thấu thì khi đến phiên nhà mình thì bình tĩnh ai đến mà sụt sùi thì bảo họ là “thôi mà em chị hiểu rồi vô thường mà” thế mới thật thấu. thế cho nên chúng ta học vô thường chưa thật thấu đâu, chưa xâm nhập được lí vô thường đâu. Trong nhà thiền thường có câu dán chữ tử lên trán thì tu rất là nhanh, lúc nào cũng thấy được thân mạng mình vô thường, thế gian này vô thường, mọi cái đang còn đều có thể mất, đang thành mà có thể hoại. Thế gian này vô thường, vạn vật này vô thường, tâm của chúng ta cũng vô thường tất cả đều luôn biến động thay đổi từ sinh đến diệt, không có cái gì là chắc thật bền vững chúng ta phải luôn ghi nhớ như thế, trái đất này còn bở giòn cơ mà thì cái thân mình có là gì đâu, nhất là Phật tử đi trên ô tô thì quán vô thường rất tốt, như thế để trừ tâm tham đắm ở thế gian này, hiểu hai chữ vô thường giúp mình vững vàng rất nhiều trong cuộc sống. Chúng ta nhở có giận ai thì cũng nhớ tới vô thường, người ta giận không ở đó để ta giận mãi, mà ai giác ngộ vô thường và luôn nghĩ rằng người ta gặp hôm nay ngày mai chắc gì gặp lai thì lúc nào cũng vui vẽ không thể giận ai nổi. người nhớ vô thường để sống thì người đó vô tư vui vẽ, không phiền không giận ai cả, miễn làm sao cho nhau vui là được. cho nên tinh thần tu thiền của chùa chúng ta là quán xã ly, quán sát sự vô thường để không đắm nhiễm, để dễ dàng buông bỏ. chúng ta bây giờ vẫn chưa thật tu, miệng thì xin phật rước con về cảnh tây phương mà tâm còn vướng mắc cõi trần quá nhiều làm sao về tây phương được, còn nếu thật muốn vãng sinh thì phải bỏ hết. chúng ta phải càng tu càng giác ngộ, càng tu mà càng mê thì không phải đệ tử Phật. 

Tiếp Tiếp theo

^ Back to Top