Tin tức » Hoạt Động Phật Sự

Chùa Ba Vàng Công Bố Thanh Quy

4/8/2015    2.760 Cảm nhận Cảm nhận

Trong quá trình hơn 7 năm qua, chùa Ba vàng tập trung cho công cuộc xây dựng và kiến thiết, đến nay giai đoạn I đã hoàn thành. Tăng ni và Phật tử đã có nơi ăn chốn ở và chỗ tu học tương đối ổn định.

Chùa Ba vàng đã trở thành điểm đến hấp dẫn của Phật tử và du khách trong nước và quốc tế. Mặc dù công cuộc kiến thiết vẫn còntiếp tục sang giai đoạn II, nhưng việc đào tạo tăng chúng lại là việc cấp thiết, tối yếu và được đặt lên vị trí hàng đầu. Chùa còn mà chư tăng hư hỏng mất phẩm chất thì chùa cũng không có giá trị.  Bởi vì chư Tăng là linh hồn của ngôi chùa, là chủ  nhân của ngôi nhà Phật giáo, là nhân tố quyết định sự hưng suy và tồn vong của Đạp pháp. Chính vì lẽ đó mà việc rèn luyện và đào tạo chư tăng trở thành những người chân tu thật đức, có lý tưởng giác ngộ giải thoát, xứng đáng làm mô phạm cho nhân thiên, làm ruộng phước lành của chúng sinh là việc vô cùng quan trọng.

Trong chương trình tu học và rèn luyện Tăng chúng của chùa Ba vàng để đạt được những mục tiêu trên nhà chùa thực hiện những nội dung sau :

1/ Toàn thể tăng chúng đều phải chấp hành nghiêm chỉnh Thanh quy đã đề ra của chùa ( thanh quy này được xây dựng căn bản trên giới luật Phật và hoàn cảnh cụ thể của chùa ). Ai không thực hiện được hoặc cố ý vi phạm, được nhắc nhở quá 3 lần không chịu sửa chữa thì đều phải bị tẩn xuất khỏi chùa.

2/ Về pháp học : Tăng chúng phải học tập đầy đủ các giáo lý căn bản của Đạo Phật và các phương pháp tu tập luyện tâm.

Học mở rộng kiến thức về Lịch sử, Văn hoá, ngôn ngữ.....

3/ Về pháp hành : Đây là công việc quan trọng nhất đối với một vị tu sĩ để thật sự dấn thân trên con đường Đạo.

Ngoài việc tu học thực hiện theo thời khoá Thanh quy tại chùa, Tăng chúng của chùa định kỳ phải nhập thất tu hành, tự giam mình trong khuôn viên của ngôi thiền thất chuyên tâm lễ bái, hành sám, thiền định... không được ra ngoài và tiếp xúc với bất kỳ một ai. Thời gian tuỳ theo sức của mỗi hành giả mà được cho nhập thất từ 3,5,7 tuần cho đến 1 năm và 3 năm.

Tăng chúng định kỳ đều phải vào trong rừng ( thuộc khuôn viên khu rừng thiền trong đất của chùa ) để thực hành hạnh độc cư, viễn ly sự ồn náo, chuyên tâm thiền quán, rèn luyện khổ hạnh để có ý chí ( ăn và ngủ đều ở trong rừng,  chịu nắng nóng, lạnh rét, mưa gió, bão tố, sợ hãi đêm tối, rắn rết, muỗi mòng, thiếu thốn vật dụng và kể cả thực tập chịu đói chịu khát...). Hành giả chỉ được ăn ngày 01 bữa cơm chay do các Phật tử tuỳ ý cúng dường, không được chọn lựa thức ăn và chê bai ngon dở. Hành giả không được nằm ngủ quá 3 đêm dưới một gốc cây để trừ bỏ tâm ái chấp, nửa đêm phải dậy đi hành thiền để trừ bỏ tâm tham ngủ...

Đó là một số nội dung trong chương trình tu tập, rèn luyện phẩm hạnh của tăng chúng chùa Ba vàng, ngõ hầu gìn giữ nét đẹp của ngôi chùa trên mảnh đất linh sơn Yên tử, góp phần xây dựng  Giáo hội PGVNngày càng vững mạnh và đem lại phúc lành cho quốc gia xã hội cùng nhân sinh. Sau đây là thanh quy :

 

 

THANH QUY


A. Tông chỉ tu tập và phương pháp tu hành của chùa Ba Vàng.

B. Nội quy tu học của Bốn chúng (Tỷ Kheo, Tỷ kheo ni, Phật tử nam, Phật tử nữ).

C. Thời khoá tu học.

D. Tổ chức.

E. Điều lệ dành cho khách Tăng và khách thập phương.

F. Kết luận.


LỜI MỞ ĐẦU

Tăng, Ni ở chùa lấy giác ngộ và giải thoát của Phật làm mục đích tối hậu, lấy giới luật của Phật làm Thầy để thực hành giáo pháp đưa đến sự chứng đắc Niết Bàn trong đời sống giới luật của Phật được áp dụng đến từng việc dù là nhỏ nhất.

Thanh quy nghĩa là:

Thanh là thanh tịnh;

Quy là nội quy, quy tắc, phép tắc hành xử.

Thanh quy là những nội quy đưa đến sự thanh tịnh tiến tới trí tuệ sáng suốt của Như Lai.

Thanh quy được thiết lập cho: người xuất gia, Phật tử công quả xuất gia, công quả tập tu, Phật tử đến tu học tại chùa và du khách hành hương.

Toàn chúng đều lấy Lục hoà theo lời Phật dạy để áp dụng trong đời sống tu tập.

Thanh quy được xây dựng dựa trên giới luật của chư Phật và đủ để một người công dân thực hiện được pháp luật của mỗi quốc gia.

Sự hình thành giới luật của Phật:

- Sau khi đức Phật thành đạo, Ngài đã thấy biết rõ ràng: có những hành nghiệp từ thân khẩu ý của chúng sinh tạo tác khiến chúng sinh bị luân chuyển trong 6 cõi là Trời, Atula, Người, Súc sinh, Ngã quỷ, Địa ngục.

- Lại có những hành nghiệp do thân khẩu ý của chúng sinh tạo tác mà chúng sinh đạt đến những nơi an vui như Tây phương Cực lạc và tiến tới Niết bàn.

Từ sự thấy biết chân thật này, Phật chế giới luật bảo hộ cho hàng Phật tử tại gia để những hành nghiệp trên thân khẩu ý khiến sinh về cõi lành, những bậc xuất gia khiến được Niết bàn, giải thoát.

Vì vậy, toàn thể Tăng, Ni, Phật tử chùa Ba Vàng phải nghiêm chỉnh thực hành Thanh quy này để đạt được lợi ích giải thoát.

Tỷ kheo Thích Trúc Thái Minh

THANH QUY

Đã là Tăng, Ni, Phật tử chùa Ba Vàng, mọi người phải nghiêm túc tìm hiểu và thực hành đúng những điều sau đây:

A. TÔNG CHỈ VÀ PHƯƠNG PHÁP TU HÀNH.

- Tông chỉ: Phát Tâm Bồ đề, tu tập các công đức, hồi hướng Vãng sinh Tây Phương Cực Lạc và tiến tới Niết Bàn.

- Phương pháp tu hành: Thiền Tịnh song tu.

Tăng, ni, Phật tử chỉ học duy nhất kinh pháp và giới luật của Phật.

1. TỊNH ĐỘ:

* TÍN - HẠNH - NGUYỆN.

1.1. TÍN:

* Tín tự: tin rằng mình có thể thực hành được những lời Phật dạy và thành tựu được kết quả như nguyện.

* Tín tha: tin đức Phật là bậc Toàn giác, Ngài đã giải thoát viên mãn và để lại đầy đủ giáo pháp cho chúng ta thực hành, tin có Niết Bàn, tin có Tây phương Cực Lạc.

1.2. HẠNH:

- Phát Bồ đề tâm nguyện và thực hành Bồ đề tâm hạnh thông qua thực hành Tam phước Vãng sinh.

1.3. TAM PHƯỚC VÃNG SINH: Thể phước, Giới phước, Hội chúng phước.

a. Thể phước: Hiếu dưỡng cha mẹ, Phụng sự Sư trưởng, từ tâm bất sát, tu mười thiện nghiệp.

+ Hiếu dưỡng Cha Mẹ:

- Hướng dẫn cho cha mẹ quy y Tam Bảo và tạo điều kiện cho cha mẹ học tập, tu hành chính pháp.

- Tự mình thực hành lời Phật dạy về các công đức hiếu hạnh đối với cha mẹ và tinh tấn tu hành để hồi hướng công đức cho cha mẹ.

+ Phụng sự Sư trưởng:

* Cách tìm Thầy:

Phật dạy người đệ tử cách tư duy để tìm cho mình người Thầy chân chính.

- Ở trú xứ người Thầy trụ trì nào mà không cho các ông ăn mà cũng không có các pháp hành về chính giới và chính pháp của Như Lai thì người đệ tử thì phải từ bỏ mà ra đi.

- Ở trú xứ người Thầy trụ trì nào mà chỉ cho các ông ăn mà không có các pháp hành về chính giới và chính pháp của Như Lai để cho các ông thực hành thì người đệ tử nên chào Thầy và xin đi.

- Ở trú xứ người Thầy trụ trì nào không có đủ để cho các ông ăn nhưng lại có các pháp hành về chính giới và chính Pháp để cho các ông thực hành thì đó là duyên nghiệp của các ông, các ông phải nhẫn nhục để tu hành.

- Ở trú xứ người Thầy trụ trì nào vừa có đủ để cho các ông ăn, vừa có các pháp hành về chính giới và chính Pháp cho các ông thực hành thì đó là phước trí của người trụ trì đã đủ để cho các ông thực hành đến giải thoát. Còn nếu có bị đánh đuổi thì đó là nghiệp của các ông biến hiện ra, các ông phải nhẫn nhục vượt qua sẽ được giải thoát.

Đối với Tăng, ni và cư sỹ ở chùa: tuân thủ theo thanh quy và phải tu tập theo sự chỉ dạy của Thầy trụ trì.

Đối với người Tại gia: tu theo sự hướng dẫn của Thầy trụ trì và chư Tăng.

+ Từ tâm bất sát:

-Từ bỏ tất cả các ý nghĩ, lời nói, việc làm sát sinh.

-Không được ăn thịt chúng sinh.

+ Tu mười thiện nghiệp:

Thân: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm;

Miệng: Không vọng ngữ, không nói hai lưỡi, không nói thêu dệt, không nói ác khẩu;

Ý: Không tham lam, không sân hận, không si mê, tà kiến.

b. Giới phước: Thọ trì Tam quy, giữ đủ giới luật, không phạm oai nghi.

Theo lời Phật dạy, nếu là đệ tử tại gia, ngoài việc giữ gìn 5 giới thì phải tu Bát Quan Trai giới một ngày một đêm thanh tịnh. Nếu là người đệ tử xuất gia thì phải nghiêm trì các chính giới đã vâng thọ.

- Không phạm oai nghi: giữ gìn bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi theo đúng oai nghi Phật dạy.

c. Hội chúng phước:Tin sâu nhân quả, phát Tâm Bồ đề, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyến tấn mọi người tu hành.

+ Tin sâu Nhân Quả: phải học để hiểu rõ từng hành nghiệp của Thân, khẩu, ý tạo tác mà sinh ra nghiệp nhân khiến chúng ta phải chịu quả báo nên chúng ta phải thực hành theo Thể phước, Giới phước và Hội chúng phước để thanh tịnh ba nghiệp.

+ Phát Tâm Bồ đề: gồm Bồ đề nguyện và Bồ đề hạnh.

-BỒ ĐỀ NGUYỆN: được tổ chức hàng năm vào buổi sáng ngày vía đức Bồ tát Quán Thế Âm (19.6 âm lịch và có lời nguyện cụ thể riêng).

-BỒ ĐỀ HẠNH: thực hành 37 phẩm trợ Bồ đề và thực hành các học pháp, các pháp hành để đưa tới tăng thượng tâm, tăng thượng trí.

1.4. NGUYỆN:

Hồi hướng tất cả công đức từ tâm trí thanh tịnh đã tạo ra hồi hướng về Tây phương Cực lạc hoặc nguyện chứng Niết Bàn.

2. THIỀN:

- Xả ly Thân, Tâm, Cảnh giới này để hướng tới Niết Bàn bằng các pháp thực hành thiền định như Thiền Minh sát, Thiền Diệt Thọ tưởng, Thiền quán niệm hơi thở …

* Thiền Tịnh song tu khiến cho hành giả tu tập được bổ trợ cho nhau. Thiền hay tịnh thì cũng đều là tu tâm, khiến cho tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

* Có một số quan niệm cho rằng Thiền - Tịnh song tu giống như một con người đứng hai chân trên hai chiếc thuyền, nếu thuyền chạy thì người bị xé ra. Đây là quan niệm sai lầm. Ví như người ở đời phải học các kiến thức để thành tựu trí tuệ thì mới được gọi là người trí thức. Còn người tu đạo Phật thì phải học để biết được tất cả tri kiến của Phật và phải thực hành mới thành tựu được trí tuệ Phật. Tất cả các hành giả tu Phật thì phải lấy trí tuệ làm sự nghiệp. Đó gọi là trách nhiệm của người con Phật.


B. NỘI QUY TU HỌC CỦA BỐN CHÚNG.

Bốn chúng: Chư Tăng (tu sỹ nam), chư Ni (tu sỹ nữ), Phật tử nam, Phật tử nữ.

Tất cả Tăng, ni và Phật tử, Thiện nam, Thiện nữ của chùa Ba Vàng phải tu tập theo đúng lời Phật dạy thông qua sự hướng dẫn của Thầy trụ trì. Không được tự ý tuyên truyền, thực hành và hướng dẫn các phương pháp tu tập khác với sự hướng dẫn của Thầy trụ trì.

I.ĐỐI VỚI CHÚNG XUẤT GIA.

Chư Tăng tại chùa Ba Vàng phải giữ 10 giới Xuất gia làm căn bản.

1.Không sát sinh: trong chùa không sát sinh và không ăn thịt chúng sinh.

2.Không trộm cắp: Không tự mình trộm cắp và không sui bảo, không tùy hỷ với việc trộm cắp.

3.Không dâm dục: không dâm dục và không dùng các phương tiện hướng tới sự dâm dục (ngồi nói chuyện bàn tán, xem tranh ảnh, phim, sách có nội dung xấu…).

4.Không nói dối: Không nói sai sự thật, không nói lời ác độc, hung dữ, không nói lời gây chia rẽ thù hằn nhau, không nói lời phù phiếm vô nghĩa.

Nói dối có nghĩa là có nói không, không nói có, thấy nói không thấy, không thấy nói thấy …

5.Không nghiện ngập: không được sử dụng những chất gây say, nghiện như rượu, bia, á phiện, xì ke, ma tuý, cà phê, thuốc lá, thuốc lào, chè xanh, chè khô (trừ khi tiếp khách và đi ra ngoài được mời uống nhưng khi dùng phải giữ chính tâm, không được tham đắm), ăn trầu, bài bạc, lô đề, các môn thể thao …

6.Không đeo tràng hoa và ướp nước hoa: Không dùng mọi thứ trang sức làm cho thân này sang đẹp.

7.Không ca múa hát xướng: những trò vui có tính cách đùa cợt loạn tâm đều không được tự làm, nghe, xem người khác làm.

8.Không nằm ngồi giường toà cao to và sang trọng: người tu không được nằm ngồi giường, ghế cao lớn, sang trọng (trừ khi đi phận sự ra ngoài Phật tử thỉnh không còn chỗ nào khác và khi thăng toà thuyết pháp).

9.Không ăn phi thời: người tu chấp nhận đời sống ít muốn biết đủ để tinh tấn tu hành nên phải giữ giới không ăn phi thời.

10.Không giữ Tiền bạc, vàng ngọc, vật báu: người tu chấp nhận không có tài sản riêng, chỉ có những vật dụng cần thiết do Chùa sắm cho nên không được giữ tiền bạc, vật báu…

* Lưu ý: tất cả Tăng chúng của chùa nếu vi phạm giới ăn thịt, uống rượu, giữ tiền bạc, dùng điện thoại riêng và tự ý ra ngoài chùa (như về thăm gia đình, đi chơi, đi làm lễ riêng, giảng pháp, cờ bạc … ). Nếu vi phạm dù chỉ một lần cũng bị tẩn xuất khỏi chùa.

II.QUY CHẾ CHUNG:

1.ĐỐI VỚI TĂNG NI TẠI CHÙA:

Để hoàn thành mục đích xuất gia của chính mình, Tăng ni cần phải hiểu được ý nghĩa của danh từ xuất gia. Nếu ai không làm được với đúng nghĩa này thì phải trở lại đời sống tại gia để không phải chịu quả báo do thọ nhận sự cúng dường khiến người cúng dường tổn mất phúc báo (đây là sự bảo hộ).

Tăng ni chùa Ba Vàng lấy pháp tu Lục Hoà của chư Phật làm nền tảng để xây dựng đại chúng trong đời sống sinh hoạt.

LỤC HOÀ

1.1- Thân hoà đồng trụ: ở chùa Ba Vàng đầy đủ điều kiện khiến cho người xuất gia thực hành pháp viễn ly ái dục và các pháp ác bất thiện. Thân phải thực hành các pháp ăn, mặc, ở, ngủ nghỉ và lao tác như chính pháp để tránh xa tâm lười biếng thì gọi là thân viễn ly các dục.

1.2- Khẩu hoà vô tranh: phải học hành chính ngữ, nói, giao tiếp, bàn luận với nhau bằng chính ngữ để đưa đến lợi mình, lợi người, lợi cả hai.

1.3- Ý hoà đồng duyệt: phải học và thực hành các pháp Như lý tác ý của chư Phật.

1.4- Kiến hoà đồng giải: phải học chính tri kiến để giải quyết tất cả mọi việc trong Tăng đoàn.

1.5- Giới hoà đồng tu: cùng nhau lấy giới luật của Phật làm nền tảng trong mọi hành xử (Tỳ Kheo đồng giới Tỳ kheo, Sa di với Sa di, Tỳ Kheo ni với Tỳ kheo ni, Thức xoa với thức xoa, Sa di ni với sa di ni, Hình đồng với Hình đồng).

1.6- Lợi hoà đồng quân: lấy chính pháp là lợi ích, là tài sản của người xuất gia, mọi người thực hành chính pháp, bình đẳng trong chính pháp, trong chúng ai có chính pháp, có trí tuệ giải thoát thì đều được bình đẳng chia sẻ.

VD: Trong chúng có một vị Thánh nhân vừa xuất gia thì vẫn được thỉnh lên toà chia sẻ pháp mà không kể lớn hạ hay nhỏ hạ, tuổi trẻ hay tuổi già.

Tất cả phẩm vật cúng dường đúng pháp thì được chia đều và đủ để thực hành đời sống thiểu dục tri túc. Nếu còn dư thì sẽ cúng dường cho một số chùa có đại chúng tu hành đúng chính pháp.

- Tất cả các việc muốn bạch thỉnh lên Thầy đều phải theo thứ lớp, việc cá nhân thì thông qua ban Quản Chúng, việc của các ban thì thông qua Ban tri sự. Sau đó, Ban quản chúng và Tri sự thông báo họp Yết ma như pháp và báo cho Ban thị giả sắp xếp thời gian để bạch thỉnh Thầy giải quyết.

- Tất cả các việc liên quan đến cá nhân và các công việc của các ban có tầm quan trọng ảnh đến đường lối tu tập của chùa, kiến trúc, cảnh quan, an toàn về người và tài sản, môi trường và có giá trị từ 2.000.000 VNĐ trở lên đều được bạch lên Ban Chức sự tiếp nhận. Sau đó Ban chức sự kiểm tra, xem xét họp bàn thống nhất ý kiến trình lên Thầy quyết định rồi mới được triển khai.

- Không được liên lạc với gia đình, người thân, bạn bè trong các việc của tại gia như giỗ, tết, cưới hỏi, họp lớp, cải táng, liên hoan, sinh nhật … (trừ trường hợp cha mẹ ốm nặng hoặc chết thì được về. Khi bố (mẹ) không có nơi nương tựa thì được đón về chùa để tự mình chăm sóc, nếu bận thì được nhờ huynh đệ chăm sóc giúp, việc này Tri sự không được cắt cử chư Tăng chăm sóc thay mình. Nếu ông bà, anh em ruột chết thì được về, khi trong họ hàng có người chết, nếu gia đình thỉnh chư Tăng thì được về cùng, nếu gia đình không thỉnh thì không được về).

- Có việc Tăng cử, Tăng sai mới được ra khỏi chùa (khi ốm đau thì bạch xin chư Tăng cho người cùng đi). Nếu có việc riêng cần đi thì phải bạch Tăng đúng pháp, Tăng cho phép mới được đi. Không được đi quá thời hạn cho phép. Nếu có việc đặc biệt xảy ra thì phải điện thoại xin phép với lý do rõ ràng.

- Không được nhận tiền cúng dường, tiền mừng tuổi, vật phẩm cúng dường riêng. Nếu gợi ý Phật tử cúng dường cho riêng mình hoặc cho Tam Bảo, hoặc cho Tăng chúng là không thanh tịnh. Tất cả phải hướng dẫn cho thí chủ cúng vào Tam Bảo mới là đúng chính pháp khiến sinh ra lợi ích cho người cúng dường.

- Tài sản của Tam Bảo là phúc báo của thập phương, người sử dụng phải trân quý, bảo vệ, giữ gìn và sử dụng tiết kiệm tối đa. Đó là sự tùy hỷ với người cúng dường sinh ra phúc báo cho mình. Ví dụ mượn ở đâu thì phải trả lại cho người quản lý ở đó.

- Tất cả công việc do Tri sự phân công là duyên phước của chính mình nên hoan hỷ làm cho hoàn thiện thì sẽ được phước báo viên mãn. Nếu chẳng may có duyên sự mà phải đi muộn, về sớm thì sám hối trước chúng Tăng ngay để bảo toàn phước báo cho chính mình.

- Tăng ni làm việc ở các ban, nếu không được phân công và không có nhiệm vụ thì không nên lui tới các ban khác (để bảo hộ cho những nhân trộm cắp, đơm đặt, vu báng từ quá khứ không có cơ hội trổ ra). Trừ trường hợp khẩn cấp như chập điện, cháy nổ, cấp cứu …

- Không được sử dụng các thiết bị điện tử nghe nhìn nếu không phải trong công việc của Tăng (nếu khởi ý cố tình sử dụng thì biết rằng do nghiệp dục từ quá khứ trổ ra sai khiến, nên phải tránh).

- Thân nhân đến thăm thì được tiếp tối đa 60 phút tại nhà khách, nếu thân nhân ở lại thì đều do tri khách sắp xếp mọi việc. Tuyệt đối nghiêm cấm tự ý dẫn người thân về tiếp tại Nội viện và Tăng đường.

- Chư Tăng, chư Ni không được tự ý qua lại nội viện hai bên. Nếu được Tăng cử, Tăng sai thì phải đi 02 người trở lên.

- Các thời giảng dạy và các thời học pháp vào những ngày 08, 14, 30 (29 tháng thiếu) phải tham gia đầy đủ. Nếu nghỉ hoặc bỏ về giữa chừng không lý do thì phải sám hối (vì phạm vào lỗi coi thường, không trân quý pháp của Phật). Trừ những người có phận sự Tăng cử, Tăng sai hoặc ốm nặng.

- Các thời khoá công phu, nếu nửa tháng mà nghỉ từ 03 buổi trở lên thì phải sám hối đại chúng Tăng.

- Khi được chỉ lỗi nên hoan hỷ nhận lỗi (thì tiêu được nhân nghiệp quá khứ). Khi thấy người khác mắc lỗi thì nên dùng lòng thương tưởng, nhẫn nhục để chỉ lỗi và sách tấn. Tuyệt đối nghiêm cấm tụ tập, hội họp không đúng pháp (như uống chè, liên hoan, ăn uống, bàn tán chuyện đời, kể lỗi người, kết bè phái chia rẽ Tăng chúng…).

- Nếu Tăng hay Ni vì nghiệp lực mà xảy ra đánh, cãi nhau. Sau khi Tăng hòa giải một lần vẫn không tu tập chuyển hóa mà tái phạm lại thì đều phải tẩn xuất. Nghiêm cấm Tăng Ni lập lời thề nguyền ác đối với Tam Bảo và với nhau. (vì nhiều kiếp phải làm ác ma).

- Đã là người xuất gia thì Tăng, Ni tại chùa không được học pháp của người thế gian như bói toán, đồng bóng, tướng số, phong thuỷ, đàn hát, kỹ nghệ, võ thuật, thể thao, nghề thầy thuốc …

Y PHỤC

- Tỳ kheo: Cà sa, 01 áo nâu đi đường, 01 bộ quần áo vàng, 01 bộ quần áo nâu để tu tập trong rừng, 01 bình bát.

- Sa Di: Cà sa, 01 áo nhật bình nâu đi đường, 02 bộ La hán nâu, 01 bình bát.

- Hình đồng:02 bộ áo vạt hò nâu, 01 áo nhật bình nâu đi đường, 01 áo hậu màu lam, 01 bình bát.

- Tỳ kheo ni: Cà sa, 01 áo nâu đi đường, 03 bộ La hán nâu; 01 áo hậu màu lam, 01 bình bát.

- Thức xoa, Sa di Ni: Cà sa, 01 áo nhật bình nâu đi đường, 03 bộ áo vạt hò nâu đen, 01 áo hậu màu lam, 01 bình bát.

- Hình đồng ni: 03 bộ áo vạt hò nâu đen, 01 áo nhật bình nâu đi đường, 01 áo hậu màu lam, 01 bình bát (khi đi đường phải thắt đai lưng).

* Lưu ý: 

- Tỳ Kheo, Tỳ kheo ni phải đắp y cả ngày.

- Thức xoa, Sa di, Sa di ni cũng phải đắp y cả ngày (trừ khi lao động nặng).

- Tăng, ni khi thọ trai chỉ được ăn bằng bình bát của mình đã được thọ. Đi qua đêm bắt buộc phải mang bình bát theo thân (Nếu không mang đi dù thí chủ có cúng cơm thì cũng không được ăn). Nếu mất bình bát (trừ gặp các nạn) thì phải ra chúng sám hối, mà phải thọ lại bát bị vá bảy miếng.

- Tăng đi cùng một mẫu dép riêng, Ni đi cùng một mẫu dép riêng.

* Những quy định trên Tăng, ni nào không thực hiện được, trước khi đi nếu còn tâm biết ơn thì chào Thầy và đại chúng, còn nếu Tăng, ni nào không làm được điều đó thì tùy ý mà đi. Nếu đi rồi mà sau đó muốn quay trở về chùa để nhập chúng tu tiếp thì phải thử thách 01 năm tại Ngoại viện (chỉ một lần duy nhất).

a. ĐỐI VỚI TỲ KHEO.

Ngoài 250 giới đã lãnh thọ và những điều quy định trên, Tỳ Kheo phải thực hiện tất cả Nội quy sau đây:

- 03 y tuyệt đối không được rời thân (trừ nạn duyên như khi tắm, phơi y, may vá).

- Ngày ăn 01 bữa vào buổi trưa, nếu bệnh thì có thể được uống nước cháo, nước cơm hoặc những loại nước hoa quả ở chùa có sẵn (nước mía, nước quả hồng táo (trái Diêm Phù), bà lầu sư, quả nho, nước quả lê, nước táo chua, nước trái thị, nước ngó sen) mà Phật cho phép. Nếu bệnh nặng phải uống thuốc thì được phép ăn cháo.

- Tỳ Kheo phải luân phiên vào tu tập trong rừng thực hành hạnh độc cư và bắt buộc phải ngủ đêm ở trong Rừng để thực hành pháp nhẫn (nhẫn được nóng, lạnh, mưa bão, gió rét, muỗi mòng, rắn rết, bệnh tật...).

- Khi đang thực hành Pháp tu trong rừng thì không được mang pháp tu này ra bàn luận hay nói ra cho chúng không đồng tu nghe vì sẽ làm mất thiện căn của người nghe và mắc vào tội phá lục hoà tối thượng.

- Ngoài thời khoá tu trong rừng thì phải tham gia đầy đủ thời khóa của chúng ở chùa.

- Trưởng tất cả các ban phải là Tỳ Kheo.

- Chúng Tỳ kheo phải sách tấn, bảo hộ cho Sa di và Hình đồng bằng lòng thương tưởng đúng với chính giới và chính Pháp. (Ví dụ: hình đồng năm giới mắc lỗi thì Tỳ kheo từ nơi năm giới mà giải trình cho họ)

- Tất cả các Tỳ kheo chùa Ba Vàng phải tu thuần thục được các pháp độc cư, thực hành vững vàng giới luật thì mới được đi học. Khi đi học mà phạm giới luật và thanh quy của chùa thì phải về thực tập lại mới cho đi học tiếp.

* Kể từ ngày ra thanh quy này, nếu Tỳ kheo nào không thực hành được những quy định trên thì bắt buộc phải rời khỏi chùa, còn muốn ở lại chùa thì phải xả giới Tỳ kheo.

Nếu Tỳ Kheo mà cố tình che giấu lỗi lầm, thì kể từ khi che giấu không còn là chúng của Chùa nữa, cho đến khi phát hiện ra thì tuỳ theo tội mà giải quyết.

b. ĐỐI VỚI TỲ KHEO NI:

Ngoài 348 giới đã lãnh thọ và những điều quy định giống như quy định của Tỳ Kheo, tất cả các Ban của Ni chúng đều phải theo sự chỉ đạo của chư Tăng.

c. ĐỐI VỚI THỨC XOA, SA DI, SA DI NI, HÌNH ĐỒNG.

Ngoài việc giữ gìn các giới pháp đã lãnh thọ và thanh quy của chùa thì cần phải thực hiện nghiêm túc các điều sau:

- Thức xoa, Sa di, Sa di ni, Hình đồng phải thực tập Thanh quy, oai nghi tế hạnh, tu tâm nhẫn nhục, cung kính, vâng lời, biết ơn. Chăm chỉ học hỏi theo sự hướng dẫn của Chùa để phá nghi trong các tri kiến về tu tập, chịu khó làm mọi phận sự để tích luỹ phúc báo và tham gia tất cả thời khoá đầy đủ.

- Luôn luôn xoay lại mình, không nên nhìn lỗi người.

- Được ăn ngày 02 bữa sáng và trưa, không được ăn vặt.

- Nếu thấy các Tỳ Kheo đi qua thì phải khởi tâm cung kính và đứng dậy chắp tay xá chào (trừ năm việc trong luật đã cho phép là khi ăn cơm, thế phát, làm việc chúng, toạ thiền - tụng kinh và bệnh nặng).

2.ĐỐI VỚI PHẬT TỬ TẬP TU XUẤT GIA:

- Không nhận người dưới 18 tuổi (ở chùa không được đi học các trường ở ngoài đời).

- Không có những bệnh truyền nhiễm, nan y (tim, phổi, lao, viêm gan B, khớp, Tiểu đường, AIDS, HIV …), thần kinh, tật nguyền, nghiện ngập, nợ nần, tâm lý không ổn định, những người vi phạm pháp luật.

- Phải có tâm cầu đạo chân chính, không vì việc ăn - mặc - ở.

- Phải thực tập đầy đủ Thanh quy của chùa dành cho mình (khi một người hoan hỷ với thanh quy này thì biết người đó có duyên lành với chính giới và chính Pháp )

- Phải vâng kính tất cả những lời chỉ dạy của chư Tăng trong quá trình tập tu xuất gia. Nếu điều nào chưa hiểu thì được bạch hỏi ở nơi chư Tăng.

- Từ lúc viết đơn xuất gia, đủ 01 năm tu tập mới được xét duyệt xuất gia. Trong một năm đó sẽ có sổ theo dõi sự rèn luyện và chuyển hoá tâm.

- Ăn ngày 02 bữa (sáng - trưa), ngoài ra không ăn vặt.

- Những ai đã lập gia đình mà muốn xuất gia thì phải có đơn ly dị, nhà chùa không nhận những người chưa ly dị với vợ (chồng) mà xin xuất gia.

- Không nhận bố (mẹ) đi xuất gia mà có con còn nhỏ dưới 18 tuổi vào ở chùa cùng tu.

- Phải làm tờ cam kết không phạm nội quy của chùa.

- Sau khi xuất gia, phải có 06 tháng thử thách mới được chính thức nhập chúng. Nếu vi phạm Thanh quy và giới luật thì phải trở lại làm cư sỹ.

3.ĐỐI VỚI PHẬT TỬ CÔNG QUẢ TẬP TU:

Để giúp cho người Phật tử tập tu có được nhiều lợi ích, đồng thời tạo thuận lợi cho việc quản lý của nhà chùa, yêu cầu quý Phật tử đến chùa thực hiện tốt các quy định sau đây:

* Quy định chung:

a. Phật tử đến chùa xin công quả, tập tu phải thực lòng tha thiết học đạo, biết quý trọng và sử dụng hữu ích thời gian mà mình được sống và tu tập tại chùa để phúc tuệ ngày càng tăng trưởng.

b. Phật tử phải thể hiện được là một người có tư cách đạo đức tốt, có lối sống lành mạnh, có nề nếp và kỷ cương.

c. Có lòng tôn kính đối với Tam Bảo, biết lễ phép và vâng lời dạy bảo của chư Tăng.

d. Có tinh thần cầu tiến bộ, vui vẻ khi được chỉ lỗi và cố gắng sửa đổi cho mình ngày càng tốt hơn.

e. Có lối sống hoà hợp, thân ái, biết thông cảm và giúp đỡ lẫn nhau khi gặp khó khăn.

f. Biết giữ gìn, quý trọng và sử dụng tiết kiệm tài sản của Tam Bảo.

* Những quy định cụ thể.

- Phật tử đến xin công quả, tập tu phải được sự đồng ý của Ban Tri Khách.

- Phật tử phải xuất trình giấy tờ tuỳ thân và tuân theo sự hướng dẫn của Thầy tri khách các việc: ăn, ngủ, sinh hoạt tại chùa.

- Công việc hàng ngày phải chấp hành theo sự phân công của Thầy Tri sự. Phải vui vẻ với công việc được giao và cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ.

- Nghiêm cấm việc dùng điện thoại di động và các hành vi sau: uống bia, rượu, hút thuốc lá, thuốc lào, á phiện, xì ke ma tuý, cờ bạc…; xem, nghe, đọc và tuyên truyền các văn hoá phẩm đồi truỵ.

- Không được tự ý đi chơi khỏi chùa hoặc đi tắm suối. Không tự ý vào Nội viện của chư Tăng (Ni). Không tự ý vào các kho tàng của nhà chùa. Không được vô cớ vào nhà Tổ hoặc Chính điện. Không tự tiện sử dụng tài vật của Tam Bảo khi chưa được sự cho phép của Chư Tăng.

- Phải tham gia đầy đủ các thời khoá tu tập của nhà chùa. Trong quá trình tu tập có điều gì vướng mắc hoặc bức xúc thì được phép tham vấn các quý Thầy để được hướng dẫn giải quyết.

- Phải giữ gìn sạch sẽ nơi ăn, chốn ở. Đi vệ sinh, tắm giặt, phơi đồ đúng nơi dành riêng cho Phật tử.

- Bữa cơm trưa phải mặc áo tràng dài và nghiêm trang cúng Phật. Trong khi ăn phải giữ trật tự và chính niệm.

+ Không được nói chuyện ồn ào;

+ Không được ăn uống nhồm nhoàm, thô tháo;

+ Khi ăn phải nhẹ nhàng, tránh gây ra tiếng động, nhất là tiếng đặt bát, đặt vung nồi xuống bàn ăn, tiếng muôi thìa khua vào bát, …

+ Không được ăn ngoài Trai đường và ăn ngoài giờ quy định.

- Nhà chùa cần sự yên lặng và thanh tịnh. Nghiêm cấm các Phật tử to lời lớn tiếng và gây lộn, mất trật tự trong chùa.

- Trước khi ra về phải xin phép Thầy tri khách.

- Cách sử phạt khi Phật tử vi phạm nội quy:

+ Lần đầu: chư Tăng nhắc nhở để rút kinh nghiệm, sửa chữa.

+ Lần hai: khiển trách trước Đại chúng.

+ Lần thứ ba: cho ra khỏi chùa.

Quý Phật tử cần chấp hành nghiêm túc các quy định trên đây để tích lũy được nhiều công đức trong thời gian tu tập tại chùa.


C.CHƯƠNG TRÌNH TU HỌC:

1.HÀNG NGÀY:

BUỔI

THỜI GIAN

NỘI DUNG



SÁNG

3h30’:

3h45’- 5h30’

5h30’- 6h00’

6h15 - 7h15’

7h15’ - 10h30’

10h30’ - 11h00’

Thức chúng, vệ sinh cá nhân.

Công phu khuya.

Xả công phu, quyét chùa.

Tiểu thực.

Lao tác.

Xả lao tác.


TRƯA

11h00’ - 12h30

12h30’ - 13h30’

Thọ trai.

Chỉ tĩnh.



CHIỀU

13h30’:

13h45’ - 16h30’

16h30’:

16h30’ - 17h45’

17h45’ - 18h15’

Khai tĩnh.

Lao tác hoặc Học, hoặc Công phu.

Xả lao tác.

Cảnh sách, Cúng thí thực, Vệ sinh cá nhân.

Hô chuống trống.




TỐI

18h15’ - 19h15’

19h15’ - 20h15’

20h15’ - 21h30’

21h30’ - 21h50’

21h50’ - 22h00’

22h00’:

Tụng kinh, Sám Hối.

Toạ Thiền (Tỳ Kheo vào Rừng tu tập).

Chúng tự học.

Kiểm tâm, Lâm thuỵ.

Đọc chuyện đêm khuya.

Chỉ tĩnh.

2. HÀNG THÁNG:

Mỗi tháng nhà chùa tổ chức cho Phật tử tu tập vào 03 ngày sau đây:

·THỌ BÁT QUAN TRAI GIỚI (mùng 08):

* Thời khoá:

- Sáng: Truyền Tam quy, ngũ giới cho Thiện nam, Tín nữ, Truyền Bát quan trai giới, Khất thực.

- Chiều: Toạ Thiền; Giảng Pháp; Kinh hành.

- Tối: Sám Hối.

·NGÀY 14 VÀ 30 (29 tháng thiếu)

- Sáng: lễ Cầu siêu.

- Chiều: Lễ Sơ quy cho các cháu nhỏ (Bán Khoán).

- Tối: Sám hối và giảng pháp.

* NGÀY 15 VÀ 30 (29 nếu tháng thiếu)

- Khuya: chư Tăng thỉnh nguyện và Bố tát

3. HÀNG NĂM:

NGÀY THÁNG

NỘI DUNG

08/01

Khai hội Xuân

08/02

Khoá tu Bát quan trai và vía Thái tử Tất Đạt đa xuất gia

08/4

Vía Phật đản và Khoá tu Bát quan trai

19/6

Phát Bồ đề tâm nguyện và Cầu siêu Thai nhi

07/7

Cầu siêu Phổ độ gia tiên

08/7

Khoá tu Bát Quan trai và Đại lễ Vu Lan

27/7 dương lịch

Lễ cầu siêu Anh hùng Liệt sỹ

23/8

Giỗ Tổ

08/11

Vía Phật A Di Đà và khóa tu Bát Quan trai

08/12

Vía Phật Thích ca Thành đạo và Khoá tu Bát quan trai

30/12

Tạ pháp, Hái hoa giác ngộ và đón Giao thừa

* Nhân dân, Phật tử phải có trách nhiệm phát hiện những việc phát tán, tuyên truyền kinh sách, băng đĩa không phải của chùa và những tài liệu xấu ảnh hưởng đến an ninh, chính trị của đất nước để nhà chùa kịp thời xử lý.

Chú ý cảnh giác trường hợp bên ngoài nhãn mác là của đạo Phật nhưng bên trong có nội dung xấu, phản động.

Trong chùa chỉ tổ chức phát hành băng đĩa, kinh sách tại phòng phát hành.

D. CƠ CẤU TỔ CHỨC :

Cơ cấu tổ chức này góp phần tạo nhân duyên để cho toàn chúng thành tựu được tâm cung kính là nhân của Thầy Trời Người (cung kính những người có Giới).

I. BAN LÃNH ĐẠO: Thầy Trụ Trì chịu trách nhiệm hướng dẫn tu hành và quyết định xem xét tổng quát toàn bộ các công việc chùa thuộc hệ thống chùa Ba Vàng.

II. BAN GIÁO THỌ: Do chư Tăng giảng dạy dưới sự chỉ đạo của Thầy trụ trì.

III. BAN CHỨC SỰ:

1. Quản chúng: có trách nhiệm sắp đặt việc tu hành của toàn chúng. Giám sát sự tu hành và đạo đức của chúng Tăng. Khi quản chúng vắng mặt, phó quản chúng thay thế và nhận trách nhiệm đặc biệt do quản chúng giao phó.

2. Tri sự: Sắp đặt, phân công công tác của toàn chùa.

3. Tri khách: Tiếp đón khách, sắp đặt nơi ăn ở cho khách, nếu khách xin ở lại thì hướng dẫn xin trình giấy với chính quyền.

4. Thư ký: Giữ gìn những văn kiện, thư từ quan trọng của chùa. Soạn thảo văn thư và liên lạc qua lại với Giáo Hội, Chính quyền, Phật tử.

5. Ban Thị giả: Sắp xếp thời gian các cuộc hẹn gặp của Tăng chúng và khách với Thầy Trụ trì. Chăm sóc sức khoẻ và đi thị giả Thầy trụ trì.

6. Thủ Bổn và Kế toán: quản lý về mặt tài chính của chùa theo quy định. Mỗi nửa tháng phải báo cáo thu chi lên Thầy trụ trì và Ban Chức sự.

7. Tri Khố: Sắp đặt cho ban trị nhật phụ trách việc ăn uống của Tăng, Ni, Phật tử tại chùa.

8. Ban Đời sống: phân phát các đồ vật dụng cúng dường cho Tăng, Ni.

9. Hương đăng: Lau quét Chính Điện, Nhà Tổ, Chính Pháp đường, Thiền đường, các ban thờ khác, chưng cúng hoa quả và hướng dẫn Phật tử hành hương lễ Phật.

10. Ban vườn: Trồng hoa màu và chăm sóc vườn cây cho tươi tốt, đồng thời biết thu hoạch hoa, quả đúng lúc.

11. Ban Cây cảnh: Trồng trọt và trông coi săn sóc toàn bộ hoa cảnh trong chùa dưới sự chỉ đạo của Ban Lãnh đạo và Ban Chức sự.

12. Ban xây dựng: chịu trách nhiệm xây dựng, tu bổ tất cả các công trình tại hệ thống chùa Ba Vàng.

13. Ban Điện máy cơ khí: Phục vụ, chịu trách nhiệm Điện và cơ khí tại chùa.

14. Ban nước: Chịu trách nhiệm về nước uống, nước sinh hoạt toàn chùa.

15. Ban Văn hoá: Chịu trách nhiệm quay phim, chụp ảnh, chuyển tải Pháp đã được giảng lên thông tin Đại chúng và ấn tống kinh sách, Băng đĩa cho nhân dân và Phật tử thỉnh.

16. Ban Nghi lễ: chịu trách nhiệm nghi lễ tại chùa và nghi lễ tại gia của các gia đình nhân dân Phật tử thỉnh Tăng.

17. Ban y tế: Phải chăm sóc bệnh của toàn chúng. Nếu nhân dân Phật tử thập phương đến chùa bị ốm thì phải xử lý cấp cứu kịp thời, nếu cần thiết thì đưa lên bệnh viện gần nhất.

18. Ban vệ sinh: đảm bảo vệ sinh sạch sẽ cho toàn chùa.

19. Ban may: may, vá tất cả y phục cho Tăng, ni và cư sỹ tập tu Xuất gia, và các công việc chư Tăng sai.

20. Ban an ninh: chịu trách nhiệm đảm bảo an ninh của chùa và coi giữ xe miễn phí cho khách thập phương.

E. ĐIỀU LỆ DÀNH CHO KHÁCH THẬP PHƯƠNG

1. Đối với khách Tăng:

- Trình báo giấy tờ tuỳ thân với Tri khách;

- Nếu ở lại thì không được quá 07 ngày, ăn uống tại Nội viện Tăng (Ni);

- Nghiêm cấm truyền bá đường lối tu tập riêng;

- Không phát băng đĩa, kinh sách, tài liệu ngoài quy định của chùa;

- Phải thực hiện thanh quy của chùa;

- Muốn nhập chúng thì phải chịu sự thử thách ít nhất 06 tháng.

2. Đối với khách hành hương và tham quan:

- Chùa Ba Vàng chia làm 02 phần là Nội viện và Ngoại viện, khách hành hương và tham quan chỉ được ở phần Ngoại viện, không được tự ý vào Nội viện Tăng (Ni). Trừ khi khách muốn nghiên cứu về đường lối tu hành của chùa, phải nhờ Thầy tri khách xin phép, sau đó mới được dẫn vào Nội Viện.

3. Đối với khách ở lại ngắn hạn:

- Nếu khách đến thăm thân nhân hoặc đến tìm hiểu, nghiên cứu thì chỉ được ở lại không quá bảy ngày.

4.Đối với khách ở lại dài hạn:

- Ở cùng với Phật tử công quả tập tu.

5. Gia đình, người thân của chư Tăng ăn uống cùng cư sỹ Phật tử công quả tập tu của chùa.

F. KẾT LUẬN:

Trong thời mạt pháp, ngũ dục sung mãn khiến hành giả khó thực hành được chính pháp, nên phải có những quy định cụ thể trong mỗi công việc liên quan đến đời sống hằng ngày, Thanh quy này là một nhu cầu thiết yếu để bảo hộ sự an ổn tu hành cho bốn chúng ở chùa Ba Vàng.

Thanh quy giúp cho Tăng, ni sống được đời sống Lục hoà, tâm được mát mẻ, thực hành được phạm hạnh, tinh tấn thực tập giới pháp trên lộ trình Giải thoát. Thanh quy chùa Ba Vàng ra đời khuyến tấn, tuyển chọn những ai có tâm xuất gia để cầu đạo (cầu chính giới và chính pháp của Phật để thực hành trong lộ trình giải thoát).

Đối với hàng cư sỹ Phật tử thì tăng thêm được phúc báo, chuyển hoá được khổ đau trong cuộc sống hiện tại, tin sâu nhân quả, thành tựu được Tín đối với Chính Pháp khiến nhiều đời nhiều kiếp gieo được nhân xuất gia .


Thanh quy này đã được duyệt lần thứ nhất. Sau này nếu hoàn cảnh xã hội thay đổi cần bổ sung hoặc chỉnh sửa lại thì phải dựa trên chính Giới và chính Pháp dưới sự họp bàn của Tăng chúng Chùa Ba Vàng.

Chùa Ba Vàng, ngày 24 tháng 5 năm Ất Mùi

BẢN CAM KẾT

NAM MÔ PHẬT BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI

Kính bạch trên Thầy trụ trì và chư Tăng chùa Ba Vàng.

Đệ tử con pháp danh là: ……………………………………………………………...

Là đệ tử của: ………………………………………………………………………….

Hiện ở: ……………………………………………………………………………….

Trình độ: ……………………………………………………………………………...

Xin cam kết sẽ sống đúng Thanh quy của chùa Ba Vàng. Nếu có phạm Thanh quy hay các giới trọng thuộc về mức độ nặng, con xin tự xấu hổ ra đi khỏi chùa, không làm phiền Thầy trụ trì và chư Tăng phải xử phạt. Nếu phạm giới khinh và các điều khoản chung, quá ba lần sám hối mà không sửa được, con cũng xin xấu hổ tự xuất chúng khỏi chùa.

Con nguyện xin cố gắng tinh tấn tỉnh giác cao để làm tròn bổn phận một đệ tử Phật tại chùa.

……, ngày……. tháng ….. năm …….

BỔN SƯ BẢO ĐẢM

ĐƯƠNG SỰ KÝ TÊN

 


* BỔ KHUYẾT.

* NIỆM PHẬT:

Nguyện 18 của đức Phật A Di Đà: Lúc tôi thành Phật, thập phương chúng sinh, chí tâm tín mộ, muốn sinh về cõi nước tôi, nhẫn đến 10 niệm, nếu không được sinh, thời tôi không ở ngôi Chánh giác; trừ kẻ tạo tội ngũ nghịch, cùng hủy báng Chính pháp.

- 10 niệm niệm Phật gồm: niệm Phật, Pháp, Tăng, Thí, Giới, Thiên, Chết, Hơi thở vào, Hơi thở ra, Cực lạc (hoặc Niết Bàn).

Niệm Phật: Phật là bậc giác ngộ;

Niệm Pháp: nói về sự khổ, nguyên nhân của khổ và con đường diệt khổ.

Niệm Tăng: là những bậc thực hành và giữ gìn, truyền bá giáo pháp của Phật.

Niệm Thí: Buông bỏ các thứ thuộc thế gian (xuất thế gian), những thứ thuộc về tâm (xuất phiền não gia), những thứ thuộc về cảnh giới này (xuất tam giới gia).

Niệm Giới: người này hoàn thành được tất cả các giới của chư Phật một cách tinh nghiêm, không hề phạm dù nhỏ nhất.

Niệm Thiên: biết rõ về cảnh giới của các cõi trời, nguyên nhân sinh về cõi trời, sau khi hết phước cõi trời thì phải đoạ lạc, những người tu hành thì phải thấy rõ và sinh tâm nhàm chán, không nguyện sinh về cõi trời.

Niệm Chết: người này phải thấy biết rõ được cảm giác đau đớn của thân tứ đại trước lúc phân ly, biết rằng thân này là cần phải bỏ và không sinh tâm ưu, bi, khổ não, luyến tiếc thân, tài sản, cảnh giới.

Niệm Hơi thở vào và ra: ngay lúc hơi thở cuối cùng, người này định tĩnh thấy rõ được hơi thở vào, ra tự tại mà không có một chút tâm dính mắc nào nổi dậy, chỉ còn là sự thấy biết.

Niệm Cực Lạc (Niết Bàn): tâm thanh tịnh, tịnh tĩnh. Tâm hoàn toàn vắng lặng, 3 nghiệp sạch trong.

- 10 niệm trì danh:

Trì: là học và thực hành, như các quan niệm khác là đọc và nói.

Niệm: Trong Bát Chính Đạo, niệm là kết quả của Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính Nghiệp, Chính tinh tấn, Chính mạng thì gọi là Niệm.

Phật: là người Giác ngộ về nguyên nhân sự đau khổ của chúng sinh và tìm ra phương pháp để cho chúng sinh thực hành giải thoát hết khổ.

=> Niệm Phật là tự mình thấy rõ được thế gian là khổ theo lời Phật dạy sinh được tâm nhàm chán, buông bỏ rồi tinh tấn thực hành các pháp giải thoát của chư Phật thì gọi là Niệm Phật.

10 niệm này là phải hành trì trên Thân, khẩu, ý thì gọi là Trì danh niệm Phật.

Công đức của một niệm cũng bằng công đức của 10 niệm, công đức của 10 niệm cũng chính là công đức của một niệm. Công đức của mình thực hành thành tựu được một niệm này thì cũng đủ vãng sinh Tây phương.

VD: một người khi đói muốn ăn cơm thì phải có đầy đủ tiền mua gạo, củi, xoong, nước … và biết nấu thì mới có cơm ăn hoặc đầy đủ tiền để mua cơm ăn. Ví như hành giảtu Tịnh độ thấy rõ cõi Ta Bà khổ muốn về Tây phương thì phải tu tập đầy đủ Tam phước mới được Vãng sinh. Tam phước này là đầy đủ trí tuệ để cắt đứt các phiền não.

A Di Đà Phật: là chứa đựng 13 loại công hạnh, công đức, gồm các công đức khiến được Vô lượng thọ, Vô Lượng Quang, Vô Biên Quang, Vô Ngại Quang, Vô Ðối Quang, Diệm Vương Quang, Thanh Tịnh Quang, Hoan Hỷ Quang, Trí Huệ Quang, Bất Ðoạn Quang, Nan Tư Quang, Vô Xứng Quang, Siêu Nhật Nguyệt Quang.

* Hành giả tu Tịnh độ nguyện sinh về Tây phương, nếu muốn nguyện được thành tựu thì phải đầy đủ các công hạnh của Tam phước Vãng sinh.

 



MỤC LỤC



NỘI DUNG

Trang

Lời mở đầu

2

A. Tông chỉ tu tập và phương pháp tu hành của chùa Ba Vàng.

3

1. Tịnh độ

1.1. Tín

1.2. Hạnh

1.3. Tam phước vãng sinh

1.4. Nguyện

3

3

3

3

5

2. Thiền

5

B. Nội quy tu học của Bốn chúng

I. Đối với chúng xuất gia

II. Quy chế chung

1. Đối với Tăng, Ni tại chùa

Lục hòa

a. Đối với Tỳ Kheo

b. Đối với Tỳ Kheo ni

c. Đối với Thức xoa, Sadi, Sadini, Hình đồng

2. Đối với Phật tử tập tu Xuất gia

3. Đối với Phật tử công quả tập tu

6

6

7

7

7

11

11

12

12

13

C. Chương trình tu học

1. Hàng ngày

2. Hàng tháng

3. Hàng năm

15

15

15

16

D. Cơ cấu tổ chức

I. Ban lãnh đạo

II. Ban giáo thọ

III. Ban chức sự

16

17

17

17

E. Điệu lệ dành cho khách thập phương

1. Đối với khách Tăng

2. Đối với khách hành hương và tham quan

3. Đối với khách ở lại ngắn hạn

4. Đối với khách ở lại dài hạn

5. Gia đình, người thân.

18

18

18

18

19

19

F. Kết luận

19

Bản cam kết

20

Bổ khuyết (phần Niệm Phật)

21

THANH QUY CHÙA BA VÀNG

Chủ nhiệm: Tỳ kheo Thích Trúc Thái Minh

Biên soạn: Chư Tăng chùa Ba Vàng

Sửa bản in: Ban Văn hóa chùa Ba Vàng

Trình bày và Bìa: Ban Thư ký chùa Ba Vàng

(LƯU HÀNH NỘI BỘ)



 


BÀI VIẾT GẦN ĐÂY

Sự Bố Thí Vĩ Đại Của Bồ Tát Vessantara (Phần 1)

18/12/2018     457

Không khí lạnh tăng cường đã tràn về trên núi Thành Đẳng nhưng không vì thế mà ảnh hưởng tới tinh...

Hàng Ngàn Phật Tử Về Chùa Tu Học Kỷ Niệm 710 Năm Phật Hoàng Trần Nhân Tông...

10/12/2018     1.737

Hòa trong không khí tri ân hướng tới đại lễ kỷ niệm 710 năm Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết...

Ông Vũ Chiến Thắng - Trưởng Ban Tôn Giáo Chính Phủ Thăm Và Làm Việc Tại...

9/12/2018     4.677

Ngày 07/12/2018 (nhằm ngày 01/11 Mậu Tuất) nhân dịp về tham dự Đại Lễ Tưởng Niệm 710 Năm Phật Hoàng...

CẢM NHẬN CỦA BẠN

Gửi cảm nhận - Vui lòng điền đầy đủ thông tin

Họ tên *
Email *
Nội dung *
Mã bảo vệ *
 
CÁC BÀI VIẾT KHÁC

Thông Báo Chương Trình Trực Tuyến Khóa Tu Bát Quan Trai Giới Ngày Ngày 14/12/2018 (tức ngày 08/11 Mậu Tuất)

Xem chi tiết
Sự Bố Thí Vĩ Đại Của Bồ Tát Vessantara (Phần 1)

Sự Bố Thí Vĩ Đại Của Bồ Tát Vessantara (Phần 1)

Không khí lạnh tăng cường đã tràn về trên núi...

Đoạn Âm Không Bằng Đoạn Tâm - Bài Học Sư Phụ Dành Cho Thế Hệ Trẻ

Đoạn Âm Không Bằng Đoạn Tâm - Bài Học Sư Phụ Dành Cho Thế Hệ Trẻ

“Một năm khởi đầu từ mùa Xuân. Một đời khởi đầu...

Giáo Hội Phật Giáo Hàn Quốc Thăm Chùa Ba Vàng

Giáo Hội Phật Giáo Hàn Quốc Thăm Chùa Ba Vàng

Trong không khí trang nghiêm chốn già lam, ngày...

Hoạt Động Ngoại Khóa Bổ Ích Của Trường THCS Hưng Đạo Và THCS Nguyên Giáp

Hoạt Động Ngoại Khóa Bổ Ích Của Trường THCS Hưng Đạo Và THCS Nguyên Giáp

Hoạt động ngoại khóa trong các nhà trường có vai...

Khóa Tu Bát Quan Trai Giới Tại Chùa Linh Sơn - Lai Châu

Khóa Tu Bát Quan Trai Giới Tại Chùa Linh Sơn - Lai Châu

Được sự cắt cử của Sư phụ cùng sự tha thiết mong...

Tu Sao Để Sống Khỏe Trường Thọ?

Tu Sao Để Sống Khỏe Trường Thọ?

Sức khỏe từ lâu đã được xem là tài sản quý nhất...

Trẻ Em Hôm Nay - Thế Giới Ngày Mai

Trẻ Em Hôm Nay - Thế Giới Ngày Mai

“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” - ngày mai...

Sư Phụ Nhận Bằng Khen Và Kỷ Niệm Chương Của Hội Di Sản Văn Hóa Việt Nam

Sư Phụ Nhận Bằng Khen Và Kỷ Niệm Chương Của Hội Di Sản Văn Hóa Việt Nam

Chùa Ba Vàng được biết đến là một ngôi chùa có...

Pháp Thoại: Tu Sao Để Sống Khỏe Trường Thọ?

Pháp Thoại: "Tu Sao Để Sống Khỏe Trường Thọ?"

Ngày 24/11/2018 (tức ngày 18/10 Mậu Tuất)

Chuột cắn khố rách

Chuột cắn khố rách

Xưa có một người quyết tâm học đạo, theo một vị...

HỒ LY VƯỢT BỂ MÓT VÀNG

HỒ LY VƯỢT BỂ MÓT VÀNG

Ngày trước, bên sườn núi có một khu sơn...

Chư Tăng Phật tử chùa Ba Vàng từ thiện tại Hạ Long

Chư Tăng, Phật tử chùa Ba Vàng từ thiện tại Hạ Long

Đợt mưa bất thường thời gian qua đã khiến cho...

PHÁ THAI VÀ NGHIỆP LỰC

PHÁ THAI VÀ NGHIỆP LỰC

Có thể vì điều kiện kinh tế khó khăn, vợ chồng...

Kỳ lạ 3 câu chuyện có thật về kiếp luân hồi

Kỳ lạ 3 câu chuyện có thật về "kiếp luân hồi"

Khái niệm "đầu thai", "kiếp luân hồi" tưởng chỉ...

Tiểu kinh Người chăn bò

Tiểu kinh Người chăn bò

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở giữa các...

Lễ Tưởng Niệm Tri Ân và Cầu Siêu Anh hùng Liệt sỹ Việt Nam

Lễ Tưởng Niệm Tri Ân và Cầu Siêu Anh hùng Liệt sỹ Việt Nam

Sáng nay, ngày 27 tháng 7 năm 2015 (12/06/Ất Mùi)...

PHẬT PHÁP NAN VĂN

PHẬT PHÁP NAN VĂN

Một thuở nọ, Phật ngự tại tịnh xá Kỳ Hoàn có 500...

Chùa Ba Vàng Công Bố Thanh Quy

Chùa Ba Vàng Công Bố Thanh Quy

Trong quá trình hơn 7 năm qua, chùa Ba vàng tập...

Phật tử về chùa sám hối và thính pháp

Phật tử về chùa sám hối và thính pháp

Tối ngày 15/7/2015 tức ngày 30 tháng 5 năm Ất...

Bế mạc khóa bồi dưỡng nghiệp vụ TTTT TƯ GHPGVN

Bế mạc khóa bồi dưỡng nghiệp vụ TTTT T.Ư GHPGVN

Ngày (27/04/Ất Mùi) 13/06/2015, Lễ bế mạc khóa...

Khoá Tu Bát Quan Trai Mừng Ngày Khánh Đản An Lạc Thảnh Thơi

Khoá Tu Bát Quan Trai Mừng Ngày Khánh Đản An Lạc Thảnh Thơi

Ngày 26/05/2014 tức ngày 08 tháng 04 năm Ất Mùi,...

Ngày Tu Bát Quan Trai - Lợi Ích Cho Cả Kẻ Còn Người Mất

Ngày Tu Bát Quan Trai - Lợi Ích Cho Cả Kẻ Còn Người Mất

Ngày 26 tháng 04 năm 2015 tức ngày 08 tháng 03...

Bộ Trưởng Bộ Y Tế Cùng Học Thiền Căn Bản Với Chư Tăng Chùa Ba Vàng

Bộ Trưởng Bộ Y Tế Cùng Học Thiền Căn Bản Với Chư Tăng Chùa Ba Vàng

Chiều ngày 28/03/2015 tức ngày 09 tháng 02 năm Ất...

Bóng mát tâm hồn: Đừng ích kỷ

Bóng mát tâm hồn: Đừng ích kỷ

Đừng ích kỷ, đôi khi chính sự ích kỷ sẽ dẫn chúng...

NGƯỜI CHĂN BÒ NANDA

NGƯỜI CHĂN BÒ NANDA

Khi còn tại gia Tôn giả Nanda là một thanh niên...

^ Back to Top